Theo định nghĩa của UNESCO, khu dự trữ sinh
quyển (KDTSQ) là “những khu vực hệ sinh thái bờ biển và trên cạn giúp thúc đẩy
các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạng sinh học với việc sử dụng bền
vững khu vực đó”.
Khu dự trữ sinh quyển: Phòng thí
nghiệm sống
Hiểu một cách đơn giản hơn, KDTSQ là
“những phòng thí nghiệm sống” giúp thử nghiệm việc quản lý đồng thời đất, nước
và sự đa dạng sinh học. Các KDTSQ cùng nhau tạo thành một mạng lưới trên toàn
thế giới: mạng lưới các KDTSQ. Hiện có hơn 500 KDTSQ được UNESCO công nhận ở
100 nước khác nhau.
Theo UNESCO.org, mỗi KDTSQ bắt buộc
phải hoàn thành ba chức năng cơ bản. Một là chức năng bảo tồn tự nhiên, tức
đóng góp cho việc bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học về nguồn
gen và các loài. Hai là chức năng phát triển, tức giúp ích cho đời sống con
người về kinh tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo phát triển bền vững. Ba là chức
năng hậu cần, tức cung cấp, hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu, kiểm tra, giáo dục
và trao đổi thông tin liên quan tới các vấn đề địa phương, quốc gia và toàn cầu
về bảo tồn, phát triển.
Trong một cuộc trao đổi với ông tổng
thư ký của Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam Phạm Sanh Châu cho biết: mô hình
KDTSQ của VN được lựa chọn là mô hình bảo vệ thí điểm bởi VN đã lồng ghép bảo
tồn với phát triển bền vững. KDTSQ không chỉ nhấn mạnh đến đa dạng sinh học mà
còn chú trọng đến sự đa dạng văn hóa, cộng đồng xã hội.
Theo đó, KDTSQ được dùng như một địa
điểm để học tập về cách phát triển bền vững, do lẽ phát triển bền vững cần đảm
bảo cả ba yếu tố gồm phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và cộng đồng xã hội.
Hơn thế, với tình trạng ô nhiễm môi trường ở mức độ cao và ngày càng gia tăng
như hiện nay, việc UNESCO công nhận tám KDTSQTG của VN sẽ mở ra những cơ hội
hợp tác quốc tế trong việc sử dụng các KDTSQ để bảo tồn, phát triển bền vững.
VN đứng đầu Đông Nam Á về khu dự trữ
sinh quyển thế giới
VN hiện nay vươn lên đứng đầu Đông
Nam Á về số lượng các KDTSQTG với tám khu. Sau khi được UNESCO công nhận là
KDTSQTG thì Cát Bà đã chủ động hợp tác trong “sáng kiến Jeju” với mục tiêu nhằm
xác định các biện pháp bảo vệ nguồn nước sạch trên thế giới. KDTSQTG Kiên Giang
đã ký được hợp đồng trị giá 2 triệu USD với một đơn vị của Đức trong việc bảo
tồn và phát triển. Hiện nay, các KDTSQTG đã có những chương trình hành động cụ
thể để duy trì như “Chương trình hành động của Madrid”, hệ thống KDTSQ Đông Á
liên minh với nhau nhằm mục đích học tập kinh nghiệm, chia sẻ cách bảo tồn,
nghiên cứu loài động vật khoa học...
Theo ông Phạm Sanh Châu, trong thời
gian tới Ủy ban UNESCO VN dự định xây dựng mạng lưới liên kết các KDTSQTG
của VN lại với nhau. Tuy nhiên để có những cơ hội hợp tác quốc tế, khu vực thì
Mũi Cà Mau và Cù Lao Chàm cần sự chủ động của ban quản lý.
Trước tiên, Mũi Cà Mau cần nhanh
chóng thiết lập ban quản lý riêng, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nhân lực, phân
vùng bảo vệ.
Ông Châu nhấn mạnh: “Các KDTSQTG là
sản phẩm mang thương hiệu quốc tế. Bây giờ khi nói đến Mũi Cà Mau, đó không chỉ
là mũi cực Nam mà còn là KDTSQTG. Bên cạnh di sản văn hóa thế giới Hội An có Cù
Lao Chàm với hệ sinh thái đa dạng”. Theo ông Châu, hiện nay VN đang nghiên cứu
học tập các mô hình bảo tồn và phát triển của các quốc gia để áp dụng tại VN.
Bảo vệ các KDTSQ là nhiệm vụ của mỗi
quốc gia. Hăng năm, kế hoạch bảo tồn và phát triển các KDTSQ cần được báo cáo
lên UNESCO đánh giá thẩm định. Theo ông Phạm Sanh Châu, hiệu lực đối với việc
UNESCO công nhận KDTSQ là vô thời hạn. Tuy nhiên, nếu chúng ta có các hành động
không đúng kế hoạch, môi trường tại các KDTSQ bị ô nhiễm thì UNESCO sẽ có
khuyến cáo, nhắc nhở và cuối cùng là có thể rút lại sự công nhận.
7 tiêu chí để trở thành khu dự
trữ sinh quyển thế giới
1. Khu vực đó có đại diện đa dạng
các hệ sinh thái của những khu vực địa lý sinh vật chính, bao gồm cả những giai
đoạn phát triển có sự tác động của con người không.
2. Khu vực đề cử có giá trị bảo tồn
đa dạng sinh học cao.
3. Khu dự trữ sinh quyển đó có thể
thực hiện phát triển theo hướng bền vững tại khu vực.
4. Khu dự trữ sinh quyển có diện
tích thích hợp để đáp ứng được ba chức năng của khu dự trữ sinh quyển.
5. Khu vực đó có đủ những vùng thích
hợp.
6. Có sự sắp xếp theo cấp độ của
những thành phần liên quan, những người tham dự, những đối tượng quan tâm tại
những khu vực phù hợp để cùng thực hiện những chức năng của khu dự trữ sinh
quyển.
7. Cơ chế thực hiện việc quản lý và
bảo tồn được UNESCO chấp nhận.
8 khu dự trữ sinh quyển của VN được
UNESCO công nhận khu dự trữ sinh quyển thế giới
1. Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập
mặn Cần Giờ, TP.HCM (2000)
2. Khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên
thuộc các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng và Đắc Lắc (2003)
3. Khu dự trữ sinh quyển quần đảo
Cát Bà, TP Hải Phòng (2004)
4. Khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước
ven biển liên tỉnh châu thổ sông Hồng thuộc các huyện Thái Thụy, Tiền Hải (Thái
Bình), Giao Thủy, Nghĩa Hưng (Nam Định), Kim Sơn (Ninh Bình) (2004)
5. Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang,
tỉnh Kiên Giang (2006)
6. Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An
vườn quốc gia Pù Mát, hai khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và Pù Hoạt (2007)
“Chương
trình trồng rừng ngập mặn và phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng” đã được Hội
Chữ thập đỏ (CTĐ) Việt Nam triển khai từ năm 1994. Tính đến nay, nó đã khẳng
tính được tính bền vững và hiệu quả khả quan, đáng khích lệ.
Dân Cà Mau tự hào cho rằng họ có rừng vàng, tuy nhiên, xét trên
phương diện tổng thể mới thấy rừng vàng chưa hẳn mang về cho dân vàng bạc tiền
tài mà thực tế rừng đã và đang đặt ra cho các nhà quản lý nhiều vấn đề bức xúc.
Với dân tộc Thái Việt Nam, rừng - đặc biệt là rừng thiêng có một
vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống và tâm linh. Những cánh rừng ấy không
chỉ cung cấp nguồn nước mát cho các buôn làng mà còn ban tặng cho người Thái
bao nhiêu sản vật quí. Bên cạnh đó, rừng còn là nơi cúng tế “đông xên”, nơi
chôn cất những người quá cố “đông pá heo” và nơi… thờ cúng.
Rừng ngập mặn bị phá hủy gây ô nhiễm và suy thoái môi trường
Phó Tổng cục Trưởng
Tổng cục Biển&Hải đảo cho biết rừng ngập mặn ở nước ta đang bị phá hủy
nghiêm trọng, với tốc độ bình quân khoảng 3 phần trăm/năm làm tăng diện tích
đất hoang, tăng xâm nhập mặn, xói lở bờ biển và sông, gây ô nhiễm và suy thoái
môi trường.
Các mối đe dọa suy giảm đa dạng sinh học bán đảo Cà Mau Là địa phương duy nhất
trong cả nước có 3 mặt giáp biển, 98% diện tích ngập nước tự nhiên, Cà Mau có
đủ 3 hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn, giàu tài nguyên thiên nhiên
vào loại hàng đầu của nước ta. Mới đây nhất, vùng đất ngập nước này còn được đề
cử xây dựng thành Khu Dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau.
Theo GS.Gary Kendrick, nhà sinh học biển thuộc
Đại học Western, Australia, mỗi năm toàn cầu mất gần 30% diện tích cỏ biển, với
khoảng 110 km2 và tỷ lệ này đang gia tăng, đây là vấn đề hết sức nghiêm trọng.
Còn ở Việt Nam thì sao?
Cồn cát ven bờ có chức
năng sinh thái không gì thay thế được. Chúng không phải là vùng đất hoang. Phát
triển bền vững vùng cồn cát đòi hỏi phải hiểu biết đúng đắn quy luật sinh thái
vùng cồn.
Theo báo cáo mới đây của Tổ chức Bảo tồn
Thiên nhiên Thế giới (IUCN), việc đánh giá tốt hơn nữa những mối nguy hiểm
đang đe doạ các dải san hô ngầm đi đôi việc nâng cao quản lý sẽ giúp loài này
có nhiều cơ hội sống sót hơn khi nước biển đang ấm dần lên.
Hải Phòng gắn quản lý các khu bảo tồn biển với ổn định cuộc sống cộng đồng
Hải Phòng đang kết hợp hài hòa giữa việc quản
lý các khu bảo tồn biển (KBTB) với ổn định cuộc sống của cộng đồng cư dân khu
vực, góp phần phát triển và đa dạng hóa sinh học được coi là một thế mạnh của
địa phương.
Gây nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam: Có thực là bảo tồn?
Theo một báo cáo mới đây của Hiệp hội bảo tồn
Động vật hoang dã (WCS), các trang trại gây nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) vì
mục đích thương mại ở Việt Nam có những tác động tiêu cực, chứ không chỉ đơn
thuần là nỗ lực bảo tồn các loài hoang dã.
Hiện nay, phong trào nuôi cá
sấu đang phát triển khá mạnh trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Tình trạng nuôi cá sấu
không đăng ký, không rõ nguồn gốc khiến việc tiêu thụ gặp không ít khó khăn,
người nuôi chịu thiệt hại về kinh tế. Việc nuôi cá sấu tự phát, chuồng trại
không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định đã và đang tiềm ẩn những nguy cơ gây mất
an toàn, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái.
Khi đặt vấn đề đến cụm từ "chia sẻ lợi
ích", thì đa số đều nghĩ đến đây là cụm từ có tính định lượng, một số ít
cho rằng nó vừa mang tính định lượng lại vừa mang tính định tính, bởi tùy thuộc
vào một điều kiện hoàn cảnh nào đó thì nó sẽ có thuộc tính phù hợp với bản chất
mà nó có thể đáp ứng.
Mỗi năm sinh vật quang tổng hợp trên trái đất
đồng hóa khoảng 170 tỷ tấn dioxitcacbon (CO2) để tạo ra khoảng 100 tỷ tấn chất
hữu cơ, 115 tỷ tấn O2 tự do - tạo điều kiện cho sự tồn tại và tiến hóa của các
dạng sống, các quần thể sinh vật và các hệ sinh thái trên cơ sở các mối liên
kết bởi các quá trình sinh - địa - hóa thì riêng thực vật rừng tạo ra 58 tỷ tấn
chất hữu cơ và 52.5 tỷ tấn O2 (S.V.Belop, 1976). Trong các hệ sinh thái của
sinh quyển thì hệ sinh thái rừng có năng suất cao hơn cả và có một vai trò vô
cùng quan trọng đối với con người.
Phong tục, tập quán mối liên hệ với quản lý tài nguyên rừng
Phong tục, tập quán là một khái niệm phức tạp,
tuy nhiên có thể được hiểu là những quy tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh
nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự quản
(thôn bản, xã). Các quy tắc này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội
mang tính tộc người hoặc mang tính khu vực. Với vai trò như vậy, phong tục, tập
quán và việc áp dụng phong tục, tập quán trong quản lý, bảo vệ rừng có ý nghĩa
rất lớn. Phong tục, tập quán thể hiện truyền thống văn hóa và giá trị đạo đức
trong cộng đồng người. Việc áp dụng phong tục, tập quán là một trong các biện
pháp cần thiết để bảo vệ các bản sắc văn hóa và chuẩn mực đạo đức truyền thống.
Giải pháp thị trường trong bảo tồn rừng mưa nhiệt đới
Tuy các khu bảo tồn đã được lập ở Amazon và
các vùng nhiệt đới khác, rừng mưa trên khắp thế giới vẫn đang bị tàn phá vì một
lý do đơn giản: Rừng có giá trị hơn khi khai thác. Nhưng vì phá rừng là nguyên
nhân hàng đầu dẫn tới hiện tượng trái đất ấm lên, hiện nay một giải pháp mang
tính thị trường cho vấn đề này đã được đề xuất. Đó là mô hình bảo tồn mới -
REDD - Reducing emissions from deforestation and degradation (giảm thiểu phát
thải do phá rừng và suy giảm tài nguyên rừng) dựa trên cơ chế thị trường để
cung cấp những “dịch vụ sinh thái”. Đây là mô hình được đặt hy vọng sẽ giữ màu
xanh cho những cánh rừng.
Sự suy giảm các rạn san hô báo hiệu nguy cơ tuyệt chủng
Theo
Liên hợp quốc, thế giới đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng hàng loạt của các
loài động, thực vật. Một trong những dấu hiệu cảnh báo sự tuyệt chủng ấy là sự
biến mất của các rạn san hô ngầm, môi trường sống của ¼ các loài cá biển.
Để
tìm ra mối liên hệ giữa sự phong phú tài nguyên thiên nhiên và sự thiếu minh
bạch trong ngân sách ở các quốc gia, Tổ chức Hợp tác Ngân sách Quốc tế
(IBP) đã thực hiện một đánh giá chi tiết về tính minh bạch của ngân sách ở 85
quốc gia trong năm 2008. Mới đây, họ đã công bố bản Báo cáo của đợt
đánh giá này.
Tác động của thay đổi khí hậu với đa dạng sinh học
Khi ba sinh viên đại
học bắt đầu hành trình bắt sâu bướm của mình năm 1965 trên ngọn núi Kinabalu
tại Borneo, họ không hề biết rằng họ đã xây dựng nền tảng cho nghiên cứu về tác
động của thay đổi khí hậu.
Hệ
sinh thái nhiệt đới được xem là “lá phổi của hành tinh” bởi có trên
60% loài thực vật trên trái đất được tìm thấy tại các khu rừng
nhiệt đới, mặc dù nó chỉ chiếm 12% diện tích bề mặt trên trái đất.
Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc Đại học Calgary đã
chỉ ra rằng trong tương lai khu vực nhiệt đới không còn là nơi bảo tồn đa
dạng sinh học thực vật nữa.
Đồng bằng sông Cửu Long: Mai dương đã thành đại họa
Báo NLĐ ngày 9 và 10-12 đã có
bài viết cảnh báo về thảm họa từ cây mai dương tại TPHCM. Trong khi cơ quan có
trách nhiệm tại TPHCM phản ứng chậm chạp thì ở nhiều nơi hậu quả đã nhãn tiền.
tại đồng bằng sông Cửu Long, mai dương đã hoành hành trên diện rộng.
Con
người phụ thuộc rất nhiều vào các hệ sinh thái và những lợi ích mà chúng đem
lại như thức ăn và nguồn nước uống, nguyên vật liệu…Tuy nhiên, trong những
thập kỷ qua loài người đã tác động quá nhiều đến môi trường sinh thái.
Hiện nay phá rừng trái phép dưới nhiều hình
thức và mục đích khác nhau đang diễn ra rất phức tạp, gây nhiều khó khăn cho
các cấp chính quyền cũng như cơ quan chức năng trong vấn đề quản lý. Đây là vấn
đề mang tính xã hội cao, để giải quyết vấn nạn này không đơn thuần là giải pháp
riêng biệt của một ngành, một lĩnh vực mà cần có những giải pháp tổng hợp với
sự tham gia của nhiều ngành chức năng.
Kỹ thuật chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp
Ngày 05/10/2007, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn đã phê duyệt đề án “Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác
nông lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy”. Để góp phần thực hiện Đề án này, Chúng
tôi xin lược trích “Kỹ thuật chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp”
để bạn đọc tham khảo.
Bảo tồn đa dạng sinh học có ý nghĩa quan trọng
trong bảo vệ và phát triển bền vững vốn rừng. Đa dạng sinh học cần phải được
bảo tồn nhằm giữ cho sinh quyển ở trạng thái cân bằng. Điều này có tác động
mạnh mẽ nhằm ngăn chặn các yếu tố có hại và phát huy các yếu tố có lợi cho hoạt
động của tự nhiên cũng như của con người. Đa dạng sinh học giúp cho việc tăng
sản lượng lương thực, thực phẩm, dược phẩm, phát triển nguồn giống cây trồng,
vật nuôi. Ngoài ra còn có những giá trị tiềm ẩn khác của đa dạng sinh học chưa
được con người biết đến.
Vấn đề nương rẫy, canh tác trên đất dốc của
đồng bào các dân tộc vùng cao đã hình thành, tồn tại hàng nghìn năm nay, là một
loại hình canh tác truyền thống nằm trong hệ sinh thái nông nghiệp của vùng núi
đồi. Nương rẫy và canh tác trên đất dốc luôn gắn với công tác bảo vệ rừng.
Trong một chừng mực có thể kiểm soát được thì nương rẫy không làm tăng thêm
nguy cơ phá rừng tự nhiên, mà nó góp phần ổn định tình hình dân cư sinh sống,
tạo nguồn lương thực tại chỗ nhằm thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng.
Khai thác gỗ vùng giáp ranh thực trạng và giải pháp
Rừng Thái Nguyên giáp
ranh với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Bắc Giang. Vùng
rừng còn nhiều gỗ quý chủ yếu giáp ranh với Bắc Kạn và Lạng Sơn, tập trung ở
hai huyện Võ Nhai và Phú Lương.
Đa dạng sinh học của rừng và vai trò của cộng đồng trong quản lý cháy rừng, giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam
Việt Nam có khoảng 12.873.850ha đất có rừng,
bao gồm rừng tự nhiên là 10.410.141ha, rừng trồng là 2.463.709ha. Hệ thực vật,
động vật rừng Việt Nam còn đa dạng, phong phú về chủng loại. Một dải rộng các
thảm thực vật bao gồm nhiều kiểu rừng phong phú đã được hình thành, như rừng
thông chiếm ưu thế ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới, rừng hỗn loài lá kim và lá
rộng, rừng khô cây họ dầu ở các tỉnh vùng cao, rừng họ dầu địa hình thấp, hệ
sinh thái rừng tràm ở Nam Bộ và rừng hỗn loại tre, nứa, vầu ở nhiều nơi là
những loại rừng dễ cháy.
Giao khoán bảo vệ rừng, thực hiện chính sách dân tộc và tác động đối với bảo vệ rừng ở Bình Định
Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của Nhà
nước có chức năng bảo vệ rừng, tham mưu cho các cấp có thẩm quyền về bảo vệ
rừng và bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương.
Trong những nhiệm vụ, quyền hạn được giao có việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra
thực hiện pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn, quy trình,
quy phạm, chế độ chính sách sau khi được ban hành.
Giải pháp bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã ở Thanh Hóa
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, những năm qua,
chính quyền các cấp và các ngành chức năng đã tích cực tuyên truyền giáo dục,
tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ và bảo tồn động vật hoang dã
nên đã hạn chế nạn săn bắt động vật hoang dã trong các khu rừng đặc dụng, khu
rừng phòng hộ.
Cuộc sống trong môi
trường nuôi nhốt khiến tuổi thọ trung bình và sức khỏe của voi giảm 2 đến 3 lần
so với những con đồng loại sống ngoài thiên nhiên, theo kết luận của một nghiên
cứu, trong đó có nguyên nhân voi mắc bệnh béo phì.
Chương
trình tọa đàm về rừng diễn ra tại Đại học Yale (Mĩ) hồi đầu tháng 10/2008
đã quy tụ hơn 250 đại diện của các chính phủ, khối doanh nghiệp, các tổ chức
xã hội và môi trường cùng những người bản xứ. Cuộc tọa đàm đã kêu gọi tăng
cường việc quản lý rừng bền vững, giảm chặt phá rừng nhằm chống lại sự thay
đổi khí hậu, đồng thời đảm bảo đời sống cho người dân nông thôn.
Bảo tồn chim nước không thể thiếu sự liên kết các quốc gia
Trong
hội nghị lần thứ 10 của Công ước Ramsar diễn ra tại Hàn Quốc hồi đầu
tháng 11/2008, các thành viên công ước đã ký kêt thỏa thuận quốc tế
khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác quốc tế để bảo tồn chim
nước và môi trường sống của chúng. Đây là một trong những giải pháp cơ
bản để bảo tồn các loài chim nước.
Trồng
cà phê dưới tán rừng là một tập quán trồng trọt lâu đời của các thế hệ ở châu
Mỹ Latinh. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, những cây cà phê được
trồng trong bóng râm này là nơi cư trú tuyệt vời cho khoảng 150 loài chim,
nhiều động vật có vú, bọ cánh cứng, kiến, lưỡng cư và thực vật biểu sinh. Hơn
thế, nó còn giúp người dân thích nghi trước sự biến đổi khí hậu.
Khánh Hòa được xem là
một trong những “rốn trầm” của Việt Nam với tên gọi xứ Trầm Hương. Do có giá
trị kinh tế cao, cây dó trầm đã trở thành đối tượng săn lùng của nhiều người.